Ngày 27/11, Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam – Hoa Kỳ với chủ đề “Chính sách và Hướng tiếp cận nhằm Đảm bảo Quan hệ Thương mại Mang lại Lợi ích Chung” đã diễn ra tại Hà Nội với sự tham dự của Thủ tướng Phạm Minh Chính.

Hội nghị tập trung vào các vấn đề như: ban hành quy định, phát triển kinh tế số, an ninh nằng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố chuỗi cung ứng, thể hiện quyết tâm hợp tác mạnh mẽ giữa hai nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế – thương mại – đầu tư.
Thủ tướng Phạm Minh Chính: Hợp tác thương mại cần đi đôi với thúc đẩy đầu tư
Phát biểu ý kiến tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh thương mại là lĩnh vực hợp tác kinh tế lớn nhất, thành công nhất trong quan hệ hai nước. Hợp tác thương mại cần đi đôi với thúc đẩy quan hệ kinh tế, đầu tư; đầu tư của doanh nghiệp Hoa Kỳ vào Việt Nam đến nay vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng nhưng cũng là sự nỗ lực lớn mang lại lợi ích cho nhân dân hai nước.

Thủ tướng vui mừng nhận thấy, sau gần 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1995-2024), thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện rồi quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, với tinh thần “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai”, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã không ngừng được củng cố và phát triển.
Quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam – Hoa Kỳ liên tục tăng trưởng
Hoa Kỳ hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam, đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn nhất. Kim ngạch thương mại hai chiều liên tục lập đỉnh, đạt 110,8 tỷ USD năm 2023 và tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2024, với 110,9 tỷ USD chỉ trong 10 tháng đầu năm. Điều này khẳng định vị thế quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu của Hoa Kỳ.
Tính đến tháng 10/2024, Hoa Kỳ có 1.400 dự án FDI còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 12 tỷ USD, đứng thứ 11/148 quốc gia, vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Tính đến tháng 10/2024, Hoa Kỳ đã đầu tư gần 12 tỷ USD vào Việt Nam thông qua 1.400 dự án FDI, đứng thứ 11/148 quốc gia.
Con số này cho thấy sự tin tưởng của các nhà đầu tư Hoa Kỳ vào môi trường kinh doanh và triển vọng phát triển của Việt Nam. Sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Warburg Pincus với danh mục đầu tư 2 tỷ USD từ năm 2013 tới nay, càng khẳng định xu hướng hợp tác, đầu tư tại Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp Việt Nam như FPT, Vinfast… cũng đang mở rộng hoạt động sang Hoa Kỳ, mang lại lợi ích cho cả hai bên.
Các đại biểu đánh giá cao triển vọng hợp tác kinh tế
Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Antony Blinken nhận định, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước đang “sôi động, mạnh mẽ hơn bao giờ hết”. Chủ tịch VCCI Phạm Tấn Công cho rằng Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam – Hoa Kỳ là “diễn đàn để cùng tìm ra những hướng đi mới, những cơ hội hợp tác tiềm năng”.

Chủ tịch AmCham Joseph Uddo nhấn mạnh, với việc nâng cấp quan hệ vào năm ngoái và sự thay đổi chính quyền tại Hoa Kỳ, đây là thời điểm quan trọng để cải thiện khung chính sách, thu hút thêm nhà đầu tư mới cũng như hỗ trợ các nhà đầu tư hiện đang hoạt động tại Việt Nam. Việc giải quyết các vấn đề quan trọng được nêu tại hội nghị này sẽ cải thiện điều kiện kinh doanh, thúc đẩy khu vực tư nhân, bảo đảm phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời đẩy mạnh thịnh vượng tại Việt Nam. Các nhà tài trợ lớn đều tin tưởng vào triển vọng phát triển của Việt Nam.
Ông Chip Kaye, Chủ tịch Warburg Pincus, nhấn mạnh những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc củng cố hạ tầng kinh tế, đẩy mạnh hội nhập và cải thiện môi trường đầu tư đã “mở đường cho sự phát triển đáng ngưỡng mộ của Việt Nam”. Những cam kết về cải cách thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng cơ sở hạ tầng… đã và đang tạo nên một môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Hoa Kỳ.
Việt Nam cam kết cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh
Thủ tướng cho biết thời gian tới, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh 3 đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nhân lực, tạo đột phá mạnh mẽ về thể chế, xây dựng bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh với tinh thần “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh” để giảm thời gian, chi phí tuân thủ, chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, đồng thời tăng năng suất lao động, tạo không gian phát triển mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, doanh nghiệp và nền kinh tế.
Ưu tiên phát triển kinh tế số, kinh tế xanh
Việt Nam ưu tiên cho tăng trưởng, tập trung làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng) và thúc đẩy các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế tri thức. Đồng thời, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển những ngành, lĩnh vực mới nổi như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật.
Triển khai các dự án lớn, mang tính chiến lược
Việt Nam cũng đang tập trung triển khai các dự án lớn mang tính “chuyển đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế” như nhà máy điện nguyên tử, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các sân bay, cảng biển lớn, hệ thống đường bộ cao tốc, phát triển cả 5 loại hình giao thông vận tải, các trung tâm trung chuyển quốc tế…; bảo đảm cung ứng đủ điện; xây dựng các trung tâm dữ liệu quốc gia; khai thác các không gian phát triển mới như không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển…
Thủ tướng đề nghị doanh nghiệp Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường hợp tác, đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực ưu tiên nói trên. Nhân dịp này, Thủ tướng đề nghị phía Hoa Kỳ khẩn trương xem xét công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường và bãi bỏ các hạn chế liên quan xuất khẩu công nghệ cao với Việt Nam.
Kêu gọi hợp tác giải quyết các vấn đề toàn cầu
Theo Thủ tướng, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, với nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia đơn lẻ nào có thể giải quyết được. Cùng với đó là nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạn kiệt tài nguyên…
Chia sẻ những nội dung trên với mong muốn các doanh nghiệp Hoa Kỳ yên tâm tăng cường hợp tác, đầu tư với Việt Nam, Thủ tướng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc coi trọng thời gian, trí tuệ và sự quyết đoán đúng lúc, kịp thời trong việc triển khai các hoạt động hợp tác.