Bước sang năm 2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục duy trì cơ chế kiểm soát tăng trưởng tín dụng (TTTD), nhưng với cách tiếp cận ngày càng chặt chẽ, minh bạch và mang tính kỷ luật cao hơn.
Thông điệp xuyên suốt của chính sách không còn là “bơm vốn hỗ trợ tăng trưởng bằng mọi giá”, mà là phân bổ tăng trưởng tín dụng theo năng lực quản trị, chất lượng tài sản và mức độ tuân thủ của từng ngân hàng, gắn chặt với mục tiêu ổn định vĩ mô và kiểm soát rủi ro hệ thống.

Tăng trưởng tín dụng theo điểm xếp hạng
Khác với giai đoạn trước, khi room tín dụng thường được phân bổ mang tính hành chính và có thể điều chỉnh mạnh theo từng đợt, năm 2026 NHNN áp dụng công thức tính rõ ràng và định lượng:
Tăng trưởng tín dụng = Điểm xếp hạng ngân hàng năm 2024 x 2,6%
Trong đó, điểm xếp hạng (từ 1–5) được xác định theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN và Thông tư 21/2025/TT-NHNN, dựa trên 6 tiêu chí cốt lõi: vốn, chất lượng tài sản, năng lực quản trị, khả năng sinh lời, thanh khoản và mức độ nhạy cảm với rủi ro.
Với hệ số 2,6% (giảm đáng kể so với mức 3,5% của năm trước), mức tăng trưởng tín dụng tối đa theo cơ chế này chỉ vào khoảng 13% đối với ngân hàng đạt 5 điểm. Thực tế, do nhiều ngân hàng có điểm xếp hạng phổ biến ở mức 4–5, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 được ước tính chủ yếu dao động 9.x–13%, phần lớn tập trung quanh 12–13%.
Điểm đáng chú ý là cơ chế ưu tiên dành cho các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc các TCTD yếu kém như VCB, MBB, VPB, HDB. Nhóm này có thể được hưởng hạn mức tín dụng cao hơn đáng kể (có thể lên tới 35%) và không hoàn toàn áp dụng công thức chung, phản ánh vai trò “trụ cột ổn định hệ thống” mà NHNN giao phó.
Một điểm mới mang tính kỷ luật cao là yêu cầu các TCTD không được sử dụng quá 25% chỉ tiêu TTTD cả năm trong 3 tháng đầu năm 2026. Với ngân hàng đạt mức tăng trưởng tối đa 13%, room tín dụng quý I chỉ khoảng 3,25%.
Quy định này nhằm chấm dứt tình trạng quen thuộc những năm trước: ngân hàng đẩy mạnh cho vay đầu năm, nhanh chóng cạn room rồi xin nới thêm, tạo ra tính mùa vụ mạnh và rủi ro thanh khoản tiềm ẩn. Từ 2026, tăng trưởng tín dụng buộc phải trải đều theo thời gian, gắn chặt với khả năng huy động vốn và quản trị rủi ro thực chất.
Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của chính sách tín dụng 2026 là kiểm soát chặt tín dụng bất động sản. NHNN yêu cầu:
Tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản của từng TCTD không được vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính TCTD đó.
Động thái này xuất phát từ thực tế năm 2025, tín dụng bất động sản tăng tới khoảng 30%, cao hơn rất nhiều so với mức tăng khoảng 19% của toàn hệ thống, làm dấy lên lo ngại về rủi ro bong bóng và lệch hướng dòng vốn.
Với quy định mới, khả năng “dồn room” cho vay chủ đầu tư bất động sản sẽ bị hạn chế rõ rệt. NHNN cũng nhấn mạnh sẽ theo dõi riêng từng TCTD, và giảm trừ chỉ tiêu tín dụng nếu ngân hàng vi phạm các chỉ đạo về cơ cấu tín dụng hoặc tốc độ tăng trưởng.
Tăng trưởng chậm hơn, nhưng bền vững hơn
Việc hạ hệ số tăng trưởng, siết nhịp đầu năm và kiểm soát tín dụng rủi ro đồng nghĩa với một thực tế: tăng trưởng tín dụng 2026 khó có đột biến, và sẽ thấp hơn kỳ vọng của một số nhóm doanh nghiệp quen dựa vào đòn bẩy vốn vay.
Tuy nhiên, đổi lại, chất lượng tín dụng được đặt lên hàng đầu. NHNN yêu cầu các TCTD tập trung vốn vào sản xuất – kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát nợ xấu, thanh khoản và khả năng chi trả. Cơ chế điều hành linh hoạt cũng cho phép NHNN chủ động điều chỉnh room tín dụng nếu điều kiện vĩ mô cho phép, mà không cần doanh nghiệp hay ngân hàng phải “xin – cho” như trước.
Doanh nghiệp nào hưởng lợi, ai gặp bất lợi?
Nhóm hưởng lợi rõ nét là các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh có dòng tiền thật, nhu cầu vốn ổn định, ít phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn, đặc biệt trong các lĩnh vực xuất khẩu, hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao. Đây là những đối tượng phù hợp với định hướng phân bổ vốn của NHNN.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp bất động sản, nhất là nhóm chủ đầu tư sử dụng đòn bẩy cao, pháp lý chưa hoàn chỉnh, phụ thuộc mạnh vào vốn ngân hàng, sẽ tiếp tục gặp khó trong tiếp cận tín dụng. Các doanh nghiệp tài chính – đầu cơ, hoặc mô hình kinh doanh dựa trên tăng trưởng nóng, cũng không còn nhiều “đất” trong môi trường tín dụng mới.
Với cổ phiếu ngân hàng, năm 2026 đánh dấu sự kết thúc rõ ràng của tư duy “sóng tín dụng – sóng ngành” như giai đoạn trước. Thay vào đó, tăng trưởng sẽ phân hóa mạnh theo chất lượng từng ngân hàng. Những ngân hàng có điểm xếp hạng cao, quản trị tốt, chất lượng tài sản lành mạnh sẽ có dư địa tăng trưởng ổn định và bền vững hơn.
Nhà đầu tư cũng cần thận trọng với các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, có kế hoạch kinh doanh phụ thuộc nhiều vào việc nới room tín dụng. Trong bối cảnh chính sách đã “đi vào khuôn phép”, kỷ luật tài chính và dòng tiền thực sẽ trở thành yếu tố sống còn, thay thế cho kỳ vọng nới lỏng chính sách.