Thanh khoản hệ thống ngân hàng có dấu hiệu cải thiện khi huy động vốn tăng nhanh hơn tín dụng, nhưng lãi suất tiền gửi vẫn duy trì ở mức cao.
Thanh khoản ngân hàng có dấu hiệu hạ nhiệt
Thị trường liên ngân hàng đang cho thấy dấu hiệu hạ nhiệt sau khi lãi suất tăng mạnh ngay sau kỳ nghỉ lễ 2/9. Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống đã bớt căng thẳng so với giai đoạn trước, trong bối cảnh tốc độ huy động vốn có sự cải thiện.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước phiên 10/9, lãi suất bình quân liên ngân hàng bằng Việt Nam đồng giữ nguyên ở kỳ hạn qua đêm và 1 tháng. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng 0,1 – 0,27 điểm phần trăm so với phiên trước.
Cụ thể, lãi suất qua đêm duy trì ở mức 1,5%/năm; kỳ hạn 1 tuần là 3%/năm; 2 tuần là 3,8%/năm và 1 tháng là 5,5%/năm. Đây là những kỳ hạn thường phản ánh khá nhanh trạng thái thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Lãi suất qua đêm và các kỳ hạn ngắn được các ngân hàng sử dụng chủ yếu để vay mượn, bù đắp thiếu hụt vốn tạm thời. Vì vậy, diễn biến của nhóm lãi suất này thường phản ánh tương đối nhanh những thay đổi về cung – cầu vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng.
So với cuối tháng 7, mặt bằng lãi suất qua đêm hiện đã cao hơn đáng kể. Cuối tháng 7, lãi suất qua đêm có thời điểm xuống chỉ 0,7%/năm, vùng thấp nhất từng được ghi nhận trên thị trường liên ngân hàng.
Tính đến ngày 22/8, huy động vốn bằng Việt Nam đồng tăng 8,77% so với đầu năm, cao hơn tốc độ tăng dư nợ tín dụng là 8,38%.
Lãi suất tiền gửi tiếp tục ở mức cao
Trên thị trường dân cư, các ngân hàng vẫn duy trì mặt bằng lãi suất tiền gửi tương đối cao, đặc biệt đối với các khoản tiền lớn và kỳ hạn dài. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh các ngân hàng tiếp tục có nhu cầu thu hút nguồn vốn ổn định.
Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy lãi suất tiền gửi bình quân kỳ hạn 6-12 tháng đã liên tục tăng từ tháng 10/2025 đến nay, lên khoảng 7,8%/năm. Trong khi đó, lãi suất thực tế trên thị trường còn cao hơn khi nhiều ngân hàng áp dụng chương trình cộng thêm biên độ cho khách hàng mới hoặc ưu đãi theo từng thời điểm.
Với kỳ hạn 6 tháng, lãi suất tại một số ngân hàng dao động khoảng 8,5 – 9,3%/năm. Với kỳ hạn 12 tháng, lãi suất thương lượng cho khoản tiền từ 1 tỷ đồng đã vượt 9,7%/năm.
Ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, mức lãi suất gần 10%/năm được áp dụng cho khoản tiền trên 10 tỷ đồng với điều kiện không rút trước hạn. Đây là mức lãi suất dành cho nhóm tiền gửi có quy mô lớn và kỳ hạn đáp ứng điều kiện của ngân hàng.
Cùng với việc duy trì mức lãi suất cao, các ngân hàng còn triển khai nhiều chương trình nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn. NCB, Sacombank và HDBank tung các chương trình giải thưởng lớn gồm biệt thự, căn hộ và vàng miếng.
Mặt bằng lãi suất tiền gửi cao cho thấy cuộc đua huy động vốn vẫn diễn ra trên thị trường. Dù tốc độ huy động đã vượt tốc độ tăng tín dụng, quy mô tiền gửi vẫn thấp hơn tổng dư nợ cho vay khoảng 940.000 tỷ đồng.
Diễn biến tăng trưởng tín dụng cho thấy nhu cầu vốn đang mở rộng nhanh hơn so với đầu năm. Từ mức khoảng 1,5% vào đầu năm, tăng trưởng tín dụng đã lên 8,36% vào tháng 8, kéo theo nhu cầu duy trì nguồn vốn của hệ thống ngân hàng.
Trong khi đó, tổng tín dụng khoảng 20,15 triệu tỷ đồng vẫn cao hơn tổng huy động vốn khoảng 19,21 triệu tỷ đồng. Chênh lệch khoảng 940.000 tỷ đồng cho thấy nguồn tiền gửi vẫn chưa theo kịp quy mô dư nợ cho vay xét trên tổng thể.
Vì vậy, sự cải thiện của thanh khoản liên ngân hàng chưa kéo theo xu hướng giảm tương ứng trên thị trường tiền gửi. Các ngân hàng vẫn cần duy trì sức hút đối với nguồn tiền gửi, nhất là tiền gửi trung và dài hạn.
Thị trường hiện ghi nhận hai diễn biến song song: thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng khi huy động vốn tăng 8,77%, cao hơn mức tăng tín dụng 8,38%; trong khi mặt bằng lãi suất huy động vẫn ở mức cao do nhu cầu vốn tăng nhanh và khoảng cách giữa tín dụng với huy động còn lớn.
Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản của hệ thống đã có sự cải thiện, nhưng chưa đồng nghĩa với việc áp lực huy động vốn đã được giải quyết. Khi tổng huy động vẫn thấp hơn dư nợ tín dụng khoảng 940.000 tỷ đồng, mặt bằng lãi suất tiền gửi vẫn chịu sức ép từ nhu cầu duy trì nguồn vốn, đặc biệt đối với các kỳ hạn trung và dài hạn.