Sự bứt tốc mạnh mẽ của dòng vốn tín dụng trong nửa đầu năm 2026 đang đặt hệ thống ngân hàng trước bài toán cân đối nguồn lực tài chính.
Tốc độ giải ngân cho vay vượt xa khả năng thu hút tiền gửi của người dân, khiến khoảng cách cung cầu vốn ngày càng nới rộng. Thực trạng này buộc nhiều nhà băng phải tìm đến các công cụ nợ có chi phí đắt đỏ hơn để khỏa lấp thanh khoản. Khi quy mô cho vay tiếp tục mở rộng, áp lực chi phí đầu vào có nguy cơ bào mòn biên lợi nhuận của toàn ngành trong giai đoạn cuối năm.

Nguồn vốn huy động hụt hơi trước đà tăng tốc giải ngân
Theo số liệu từ TCBS Research, tín dụng toàn hệ thống ghi nhận mức tăng 9% trong 6 tháng đầu năm 2026. Trong khi đó, dòng vốn huy động từ dân cư chỉ đạt mức tăng trưởng 5,5%. Khoảng cách 3,5 điểm % giữa hai tốc độ tăng trưởng này cho thấy tình trạng mất cân đối đang diễn ra trên diện rộng. Khảo sát thực tế chỉ ra có tới 20 trên tổng số 26 ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng tiền gửi chậm hơn tốc độ mở rộng dư nợ cho vay.
Sự tăng tốc của dòng tiền thể hiện rõ nét nhất trong quý II với khoảng 811.000 tỷ đồng tín dụng được bơm thêm ra nền kinh tế. Con số này cao gấp 1,7 lần so với quý đầu năm, tạo sức ép thanh khoản tức thì lên hệ thống. Đáng chú ý, nguồn vốn huy động không chỉ tăng chậm mà dòng tiền giá rẻ cũng sụt giảm đáng kể. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) toàn ngành quý II giảm xuống còn 20,2%, thấp hơn mức 21,7% ghi nhận vào cuối năm 2025, với 22 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ này đi lùi.
Tình trạng huy động phân hóa sâu sắc giữa các nhóm tổ chức tín dụng. Một số đơn vị như VPBank và HDBank vẫn duy trì được năng lực thu hút tiền gửi tương đối khả quan. Ngược lại, nhiều nhà băng khác chỉ ghi nhận mức tăng trưởng khiêm tốn hoặc rơi vào trạng thái suy giảm quy mô tiền gửi. Ngay cả khối ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước, dù sở hữu mạng lưới chi nhánh rộng lớn và uy tín thương hiệu cao, tốc độ tăng vốn huy động cũng ở mức dè dặt.
Khi nguồn tiền gửi không kỳ hạn suy yếu và tiền gửi tiết kiệm thông thường không đủ đáp ứng, các nhà băng buộc phải tìm kiếm nguồn bù đắp qua kênh phát hành giấy tờ có giá. Tính đến hết quý II, tổng dư nợ giấy tờ có giá của 26 ngân hàng niêm yết đã đạt khoảng 1,96 triệu tỷ đồng. Mức quy mô này phản ánh mức tăng 16,7% so với thời điểm đầu năm, cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn tiền gửi truyền thống. Việc sử dụng công cụ nợ phát hành giúp giải quyết bài toán thanh khoản tức thời nhưng lại đặt ra thách thức lớn về chi phí hoạt động.
Thực tế cho thấy lãi suất phát hành các loại giấy tờ có giá hiện dao động phổ biến trong khoảng 8-10%/năm. Mức chi phí này cao hơn khoảng 3-5 điểm % so với chi phí vốn bình quân 4,8% của toàn ngành ngân hàng. Việc gia tăng tỷ trọng nguồn vốn đắt đỏ vào bảng cân đối kế toán đang trở thành gánh nặng tài chính trực tiếp. Tình trạng này khiến bài toán thanh khoản dần chuyển hóa thành rủi ro suy giảm lợi nhuận, nhất là đối với các tổ chức tín dụng có mức độ phụ thuộc lớn vào trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi.
Tín dụng dồn mạnh vào bất động sản trong khi cho vay bán lẻ thu hẹp
Đi cùng áp lực về nguồn vốn huy động, cơ cấu phân bổ dòng vốn tín dụng trong 6 tháng đầu năm cũng ghi nhận những chuyển dịch rõ nét. NCB ghi nhận tốc độ tăng trưởng cho vay dẫn đầu hệ thống với mức 30,7%. Các đơn vị khác như VPBank, HDBank, Techcombank và MB đều duy trì mức tăng trưởng dư nợ ở mức hai chữ số. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì tốc độ mở rộng thận trọng hơn, dao động quanh mức 5-5,5%.
Dòng tiền của các nhà băng đang tập trung mạnh vào khu vực doanh nghiệp, trong đó lĩnh vực kinh doanh bất động sản là điểm đến hấp dẫn nhất. Dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản toàn hệ thống tăng trưởng 19,8%, vượt trội so với mức tăng trưởng chung của toàn ngành. Nhiều ngân hàng thương mại tư nhân như VIB, TPBank, VPBank, MB và OCB đều ghi nhận mức gia tăng rất mạnh trong quy mô tài trợ cho lĩnh vực này. Dòng vốn lớn tiếp tục chảy vào các dự án bất động sản và các chương trình phát triển hạ tầng trọng điểm.
Ở chiều ngược lại, mảng cho vay cá nhân đang cho thấy tín hiệu chững lại rõ rệt. Tỷ trọng tín dụng bán lẻ tại 19 ngân hàng được thống kê đã sụt giảm từ mức 44,4% xuống còn 39,5%.