Văn phòng Quốc hội vừa ban hành Văn bản hợp nhất Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó cập nhật quy định về cách xác định thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và mức giảm trừ gia cảnh áp dụng cho người nộp thuế cùng người phụ thuộc. Theo quy định, mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng và đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
Việc xác định nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân tiếp tục được thực hiện theo nguyên tắc tính trên phần thu nhập tính thuế sau khi đã loại trừ các khoản được phép khấu trừ theo quy định. Trong đó, giảm trừ gia cảnh vẫn là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến số thuế thực tế mà người lao động phải thực hiện.
Cách xác định thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công
Theo nội dung được hợp nhất tại Luật Thuế thu nhập cá nhân, khoản thuế phát sinh từ tiền lương, tiền công được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất tại biểu thuế lũy tiến từng phần.
Thu nhập tính thuế được hiểu là phần thu nhập còn lại sau khi người nộp thuế thực hiện các khoản khấu trừ theo quy định. Cụ thể, tổng thu nhập chịu thuế mà cá nhân nhận được sẽ được trừ đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trước khi tính nghĩa vụ thuế.
Quy định này tiếp tục duy trì nguyên tắc đánh thuế trên phần thu nhập thực tế còn lại của người lao động thay vì tính trên toàn bộ thu nhập phát sinh. Đây cũng là cơ sở để xác định mức thuế phải nộp theo từng bậc của biểu thuế lũy tiến.
Đối với thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công, luật quy định căn cứ vào thời điểm tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế thực tế nhận được khoản thu nhập đó.
Cùng với quy định về cách xác định thu nhập tính thuế, nội dung liên quan đến giảm trừ gia cảnh tiếp tục được xem là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Theo quy định hiện hành được nêu tại văn bản hợp nhất, mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng, tương đương 186 triệu đồng/năm.
Đối với người phụ thuộc, mức giảm trừ được áp dụng là 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc.
Khoản giảm trừ này được thực hiện trước khi xác định thu nhập tính thuế, qua đó làm giảm phần thu nhập phải chịu thuế của cá nhân có phát sinh thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Luật đồng thời quy định căn cứ vào biến động của giá cả và thu nhập trong từng giai đoạn, Chính phủ sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định mức giảm trừ gia cảnh phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của từng thời kỳ.
Quy định về người phụ thuộc và nguyên tắc áp dụng giảm trừ gia cảnh
Bên cạnh việc quy định mức giảm trừ, văn bản hợp nhất cũng làm rõ nguyên tắc xác định người phụ thuộc để bảo đảm việc áp dụng chính sách thống nhất.
Theo đó, mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần cho một người nộp thuế. Quy định này nhằm tránh việc cùng một đối tượng được sử dụng để giảm trừ tại nhiều hồ sơ kê khai khác nhau.
Danh mục người phụ thuộc thuộc diện được áp dụng giảm trừ gia cảnh bao gồm nhiều nhóm đối tượng.
Trước hết là con chưa thành niên của người nộp thuế. Ngoài ra còn có con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật hoặc không có khả năng lao động.
Đối với con đã thành niên, vẫn có thể được xác định là người phụ thuộc nếu đang theo học tại các cơ sở giáo dục như đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề theo quy định.
Không chỉ giới hạn ở con cái, diện người phụ thuộc còn bao gồm vợ hoặc chồng không có khả năng lao động.
Cha mẹ của người nộp thuế trong trường hợp đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động cũng thuộc nhóm được xem xét giảm trừ gia cảnh.
Ngoài các đối tượng trên, quy định còn áp dụng với những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng.