Luật Dầu khí (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua, trao thêm quyền cho Petrovietnam trong hoạt động dầu khí, đồng thời bổ sung cơ chế xử lý chi phí đối với các dự án đầu tư thất bại.
Ngày 23/8, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất dưới sự điều phối của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên. Dự thảo luật nhận được sự đồng thuận cao, với 94,6% đại biểu tán thành, tương ứng 473 trên tổng số 475 đại biểu có mặt biểu quyết đồng ý.
Luật Dầu khí (sửa đổi) gồm 12 chương và 62 điều, tăng 1 chương và giảm 7 điều so với Luật Dầu khí cũ. Luật sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/3/2027.
Petrovietnam được tăng quyền chủ động trong hoạt động dầu khí
Theo nội dung được thông qua, Petrovietnam được đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong việc thực hiện các hoạt động điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí. Tập đoàn có thẩm quyền thực hiện hoạt động dầu khí trong vai trò nhà đầu tư, ký kết các thỏa thuận thực hiện điều tra cơ bản, tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng dầu khí.
Bên cạnh đó, Petrovietnam được trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà trong các hoạt động liên quan. Việc tăng quyền chủ động được thể hiện rõ trong thẩm quyền quyết định của Hội đồng Thành viên Petrovietnam đối với việc sử dụng vốn khi tập đoàn thực hiện quyền tham gia và quyền ưu tiên mua trước một phần hoặc toàn bộ quyền lợi.
Hội đồng Thành viên Petrovietnam cũng được giao quyền quyết định việc thực hiện hoạt động dầu khí theo các giai đoạn của hợp đồng. Cơ quan này có thẩm quyền phê duyệt kết thúc các dự án đầu tư thất bại và báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu về những nội dung đã được phê duyệt.
Đối với hoạt động điều tra cơ bản, luật mới quy định các chi phí phát sinh ngoài kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp sẽ được Petrovietnam thanh toán trực tiếp từ nguồn lợi nhuận sau thuế. Cơ chế này tạo cơ sở để tập đoàn chủ động xử lý những khoản chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Một nội dung đáng chú ý khác liên quan đến các dự án mỏ dầu khí đầu tư thất bại. Theo quy định mới, sau khi Hội đồng Thành viên Petrovietnam quyết định kết thúc dự án và hoàn tất quyết toán, các chi phí của dự án sẽ được bù đắp từ nguồn lợi nhuận sau thuế hằng năm của tập đoàn.
Quy định này đặt ra cơ chế xử lý cụ thể đối với những dự án không đạt hiệu quả đầu tư và phải chấm dứt. Thay vì để các khoản chi phí của dự án thất bại tồn tại trong quá trình xử lý kéo dài, luật xác định nguồn để bù đắp sau khi dự án đã được quyết định kết thúc và hoàn tất quyết toán.
Luật cũng cho phép Petrovietnam sử dụng tiền thu từ bán sản phẩm dầu, khí được chia của nước chủ nhà để bù trừ, thanh toán các chi phí quản lý, giám sát và duy trì hợp đồng trước khi xác định lãi nộp ngân sách.
Như vậy, cơ chế tài chính mới không chỉ tập trung vào việc xử lý chi phí của các dự án đầu tư thất bại mà còn quy định cách thức sử dụng nguồn tiền từ phần dầu, khí được chia của nước chủ nhà. Các khoản thu này được sử dụng để bù trừ và thanh toán những chi phí liên quan trước khi xác định phần lãi nộp ngân sách.
Việc quy định cụ thể quyền quyết định của Hội đồng Thành viên Petrovietnam cũng gắn với yêu cầu báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với các nội dung đã phê duyệt. Điều này tạo ra cơ chế phân quyền trong quá trình triển khai hoạt động dầu khí, đồng thời xác định trách nhiệm báo cáo đối với những quyết định thuộc thẩm quyền của tập đoàn.
Bổ sung ưu đãi cho khu vực khó khăn và các dự án đặc thù
Cùng với cơ chế dành cho Petrovietnam, Luật Dầu khí sửa đổi cũng đưa ra các khung ưu đãi đầu tư cụ thể nhằm thu hút nguồn vốn vào những khu vực có điều kiện khai thác khó khăn.
Đối với các lô dầu khí nằm ở vùng nước sâu, xa bờ hoặc những khu vực có điều kiện địa lý khó khăn, địa chất phức tạp, mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng là 32%. Thuế suất thuế xuất khẩu dầu thô ở mức 10%, trong khi tỷ lệ thu hồi chi phí tối đa là 7% sản lượng khai thác trong năm.
Đối với các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư đặc biệt, mức thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm xuống còn 25%. Thuế xuất khẩu dầu thô áp dụng ở mức 5% và tỷ lệ thu hồi chi phí tối đa đạt 80% sản lượng khai thác được trong năm.
Các mức ưu đãi được thiết kế theo từng nhóm dự án và điều kiện khai thác. Trong đó, những khu vực có đặc điểm địa lý, địa chất phức tạp hoặc nằm ở vùng nước sâu, xa bờ được áp dụng một khung chính sách riêng. Các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư đặc biệt có mức ưu đãi cao hơn về thuế và tỷ lệ thu hồi chi phí.
Đối với các mỏ cận biên kém hiệu quả kinh tế, nhà thầu được đề xuất các chính sách ưu đãi khác. Theo quy định được nêu trong luật, sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nhà thầu sẽ được sử dụng toàn bộ phần dầu khí còn lại để thu hồi chi phí hoạt động và được hưởng toàn bộ phần dầu khí còn lại.
Việc bổ sung cơ chế đối với các mỏ cận biên nhằm tạo khung xử lý cho những dự án có hiệu quả kinh tế thấp. Đây là nhóm dự án có đặc điểm khác biệt so với các mỏ có điều kiện khai thác thuận lợi, do đó luật đưa ra cơ chế riêng để nhà thầu có thể thu hồi chi phí hoạt động sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế.
Ngoài các quy định về quyền và cơ chế tài chính, Luật Dầu khí sửa đổi cũng mở rộng phạm vi khung pháp lý đối với một số hoạt động mới gắn với ngành dầu khí và năng lượng.
Luật quy định khung pháp lý đối với hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ carbon dioxide gắn trực tiếp với hoạt động dầu khí. Đồng thời, luật cũng đề cập đến phát triển công trình năng lượng ngoài khơi và phát triển dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao.
Theo báo cáo tiếp thu, Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng cho biết Chính phủ sẽ xây dựng các nghị định hướng dẫn chi tiết nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ. Đây sẽ là cơ sở để các quy định mới trong luật được triển khai cụ thể trong thực tế.
Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý cho các dự án thu giữ và lưu giữ carbon (CCS) và năng lượng ngoài khơi độc lập. Mục tiêu được nêu là bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, dài hạn và khả thi của khung pháp lý.
Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ có hiệu lực từ ngày 1/3/2027. Trước thời điểm này, các quy định hướng dẫn chi tiết sẽ cần được xây dựng nhằm làm rõ cơ chế thực hiện đối với những nội dung mới, trong đó có quyền hạn của Petrovietnam, cơ chế xử lý chi phí dự án đầu tư thất bại, các chính sách ưu đãi đối với từng nhóm dự án và khung pháp lý cho các hoạt động liên quan đến carbon, năng lượng ngoài khơi.