
Lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết tăng mạnh trong quý II/2026 và vẫn duy trì mức tăng hai chữ số khi loại các doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái Vingroup, cho thấy đà phục hồi đã lan sang nhiều nhóm ngành.
Bất động sản, ngân hàng và nhóm hàng hóa dẫn dắt tăng trưởng
Theo báo cáo của Chứng khoán Thiên Việt (TVS), lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán tăng 49,4% so với cùng kỳ trong quý II/2026, mức cao nhất trong nhiều quý gần đây.
Dữ liệu được tổng hợp từ 1.067 trên tổng số 1.748 doanh nghiệp, đại diện 98,8% vốn hóa toàn thị trường. Nhóm phi tài chính ghi nhận lợi nhuận tăng 73%, trong khi nhóm tài chính gồm ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm tăng 25,2%.
Nếu loại VIC, VHM, VRE, VPL và VEF thuộc hệ sinh thái Vingroup, lợi nhuận toàn thị trường vẫn tăng 34,6%. Có 16/19 nhóm ngành ghi nhận kết quả cao hơn cùng kỳ, với bất động sản, ngân hàng, dầu khí, tài nguyên cơ bản và điện – nước – xăng dầu – khí đốt là những nhóm đóng góp lớn về giá trị tuyệt đối.
Bất động sản dẫn đầu với mức tăng lợi nhuận 257%, chủ yếu nhờ Vinhomes, Vingroup và KSF. Vinhomes tăng lợi nhuận 201% khi đẩy mạnh bàn giao tại các dự án Vinhomes Green Paradise, Vinhomes Saigon Park và Vinhomes Global Gate Hạ Long. KSF ghi nhận doanh thu gấp 46 lần và lợi nhuận gấp 111 lần cùng kỳ khi nhiều dự án Noble Palace bước vào giai đoạn bàn giao.
Khối ngân hàng niêm yết đạt tổng lợi nhuận 87.935 tỷ đồng, tăng 24,7% và gần gấp đôi tốc độ tăng của quý I. Tổng thu nhập hoạt động tăng 18,8%, lên 217.053 tỷ đồng, trong bối cảnh tín dụng tăng 17,8% và lãi thuần dịch vụ tăng 70%, đạt 28.581 tỷ đồng.
Biên lãi ròng bình quân phục hồi lên 3,15%, còn tỷ lệ chi phí trên thu nhập giảm từ 31% xuống 28,9%. Tuy nhiên, mức tăng tập trung đáng kể ở một số ngân hàng lớn, khi VCB và HDB đóng góp 44% phần tăng tuyệt đối của toàn ngành.
Áp lực nguồn vốn và chất lượng tài sản cũng bắt đầu xuất hiện. Tiền gửi tăng 5,5% từ đầu năm, thấp hơn mức tăng 8,9% của cho vay. Tỷ lệ nợ xấu giữ ở 2,01%, nhưng nợ nhóm 2 tăng từ 1,23% lên 1,38%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 79%.
Lợi nhuận ngành dầu khí tăng khoảng 243%. BSR đạt 7.460 tỷ đồng, gấp gần 9 lần cùng kỳ và chiếm 67% lợi nhuận toàn ngành nhờ biên lọc dầu cải thiện mạnh. PLX lãi 2.809 tỷ đồng, chủ yếu nhờ hoàn nhập khoảng 6.074 tỷ đồng dự phòng tồn kho đã trích trong quý I.
Ở chiều ngược lại, PVOIL lỗ 136 tỷ đồng, đánh dấu quý thua lỗ đầu tiên sau gần bốn năm. PVD giảm lợi nhuận 32%, còn PVS tăng 46,5% nhờ khoản thu nhập đột biến liên quan đến quyết toán và bồi thường hợp đồng.
Ngành điện – nước – xăng dầu – khí đốt tăng lợi nhuận 46,1%. POW đạt 3.519 tỷ đồng, tăng 484% và là mức cao nhất kể từ khi niêm yết, nhờ sản lượng, giá bán điện tăng, doanh thu 6.420 tỷ đồng từ Nhơn Trạch 3 và 4 cùng 2.475 tỷ đồng lợi nhuận không thường xuyên. GAS lãi 5.850 tỷ đồng, tăng 23%, còn PGV đạt khoảng 1.447 tỷ đồng, tăng 65%.
Nhóm tài nguyên cơ bản tăng 83,2%. Hòa Phát tăng lợi nhuận 49,7% nhờ sản lượng cao hơn 64% và biên lợi nhuận thép cải thiện. MSR ghi nhận lợi nhuận gấp 277 lần nhờ giá APT tăng mạnh, trong khi KSV tăng 2,7 lần nhờ giá vàng, bạc và đồng đi lên.
Ngành hóa chất cũng tăng 55,4% với sự hỗ trợ từ giá cao su và urê. GVR lãi 2.289 tỷ đồng, tăng 58%; DPM tăng 125% và DCM tăng 36%. Ngược lại, DGC giảm lợi nhuận 54% do mỏ apatit số 25 tạm dừng khai thác, buộc doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và mua ngoài.
Bán lẻ phục hồi nhưng lợi nhuận còn chịu ảnh hưởng từ khoản bất thường
Ngành bán lẻ ghi nhận lợi nhuận tăng 105,5%. MWG tăng 100%, trong khi DGW và FRT cùng tăng 188%. MWG và DGW hưởng lợi từ giá bán thiết bị điện tử tăng cùng lượng hàng tồn kho giá thấp được tích trữ trước đó. FRT được hỗ trợ bởi chuỗi Long Châu, với doanh thu bình quân 1,4 tỷ đồng mỗi cửa hàng mỗi tháng và 122 cửa hàng mới trong quý.
Ba nhóm ngành có lợi nhuận suy giảm gồm du lịch và giải trí, ô tô và phụ tùng, hàng cá nhân và gia dụng.
Du lịch và giải trí giảm 81,2% do giá nhiên liệu hàng không tăng. Vietnam Airlines lỗ 735 tỷ đồng, đảo chiều so với mức lãi 2.856 tỷ đồng cùng kỳ. Vietjet đạt lợi nhuận 334 tỷ đồng, giảm 49%.
Ngành ô tô và phụ tùng giảm 88,8%, chủ yếu do CTCP Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy (HHS) không còn khoản lợi nhuận 3.507 tỷ đồng từ đánh giá lại tài sản như cùng kỳ. Nếu loại HHS, lợi nhuận của các doanh nghiệp còn lại trong ngành tăng 93,5%.
Hàng cá nhân và gia dụng giảm 18,9% do PNJ lỗ 283 tỷ đồng sau khi trích lập 865 tỷ đồng cho nghĩa vụ mua lại kim cương. Nếu không tính PNJ, lợi nhuận ngành vẫn tăng 22,7%, chủ yếu nhờ các doanh nghiệp dệt may.
Xét theo sàn giao dịch, lợi nhuận doanh nghiệp trên HOSE, HNX và UPCoM lần lượt tăng 45,8%, 81,5% và 65,1%. Trong các chỉ số trên HOSE, VN30 tăng 61,4%, VNMID tăng 36,1%, còn VNSML giảm 24,5% do ảnh hưởng từ HHS. Nếu loại doanh nghiệp này, nhóm vốn hóa nhỏ tăng 16,8%.
TVS nhận định lợi nhuận thị trường vẫn có khả năng tăng trong nửa cuối năm, song mức độ phân hóa có thể rõ hơn. Kết quả quý II được hỗ trợ một phần bởi hoạt động bàn giao dự án cùng các khoản hoàn nhập, đánh giá lại hoặc thu nhập bất thường tại VIC, POW, PLX, HDB và PVS.
Trong các quý tiếp theo, chi phí vốn, sự gia tăng của nợ nhóm 2 và áp lực trích lập dự phòng có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp.