Dự thảo Luật Quản lý và Đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã được thiết kế với tinh thần cởi trói, phân cấp mạnh mẽ cho doanh nghiệp nhà nước.
Dù vậy, vẫn có nhiều nội dung trong dự thảo luật được đưa ra lấy ý kiến đại biểu quốc hội theo phương án, 1,2 thậm chí 3.
“Cởi trói” mạnh mẽ cho doanh nghiệp nhà nước
Nếu như trước đây các doanh nghiệp F2, F3 (tức là doanh nghiệp có vốn của doanh nghiệp nhà nước) cũng là đối tượng chịu quy định của luật thì nay chỉ có doanh nghiệp có vốn nhà nước từ 50% trở lên thuộc đối tượng áp dụng quy định này.
Theo đánh giá của các doanh nghiệp, việc đưa doanh nghiệp cấp 2, cấp 3 vào đối tượng luật là rất bất cập, tạo thêm tầng lớp quản lý, tạo thêm điểm nghẽn trong việc tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm trong doanh nghiệp.
Về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cũng có những quy định cởi mở hơn. Cụ thể, dự thảo luật quy định, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp được thực hiện theo các hình thức đầu tư quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư mua sắm tài sản cố định, mua chứng khoán theo quy định pháp luật về chứng khoán.

Đối với dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, trình tự, thủ tục đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công.
Đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định đầu tư dự án sau khi hoàn thành thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư; trình tự, thủ tục đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật khác có liên quan.
Đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư nhưng không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật chuyên ngành thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và quy định của Chính phủ.
Trừ trường hợp quy định trên, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định từng dự án đầu tư, khoản đầu tư có mức vốn đầu tư không quá 50% vốn chủ sở hữu, hoặc không quá 50% vốn đầu tư của chủ sở hữu trong trường hợp doanh nghiệp lỗ, được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định dự án nhưng không quá mức cụ thể theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp dự án đầu tư có giá trị lớn hơn mức này, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định đầu tư sau khi báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu có ý kiến về mục đích, mức vốn đầu tư, nguồn vốn, thời gian thực hiện dự án đầu tư.
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước sẽ có không gian lớn hơn trong việc đầu tư thay vì những khoản đầu tư có giá trị vài tỷ đồng trở lên đã phải xin ý kiến cơ quan chủ sở hữu như hiện nay.
4 nhóm vấn đề còn nhiều ý kiến
Sáng 13/5, Quốc hội thảo luận về những nội dung còn nhiều ý kiến trong dự luật.
Hiện có 4 nhóm vấn đề còn nhiều phương án khác nhau.
Thứ nhất, về Đối tượng áp dụng luật, ngoài Đại diện chủ sở hữu nhà nước và Doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng trừ Ngân hàng chính sách (doanh nghiệp), thì còn nhóm đối tượng thứ ba có 2 phương án.
Phương án 1: Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
Phương án 2: Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Nhóm vấn đề thứ 2 được cho là rất quan trọng. Phương án 1: Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phải thông qua người đại diện chủ sở hữu trực tiếp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
Phương án 2: Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phải thông qua người đại diện chủ sở hữu trực tiếp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Vốn nhà nước sau khi đã đầu tư tại doanh nghiệp được xác định là tài sản, vốn của pháp nhân tại doanh nghiệp.
Nhóm vấn đề thứ ba liên quan đến trích lập các quỹ theo quy định của luật chuyên ngành.
Phương án 1: Lợi nhuận còn lại doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước, trừ trường hợp sử dụng để bổ sung vốn điều lệ, đầu tư dự án theo quy định của Chính phủ.
Phương án 2: Lợi nhuận còn lại doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước.
Phương án 3: Lợi nhuận còn lại doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước. Trong trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung vốn điều lệ, đầu tư dự án.
Nhóm vấn đề thứ tư liên quan đến Nguyên tắc huy động vốn, cho vay vốn.
Theo đó, Phương án 1: Doanh nghiệp được quyết định cho công ty do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ vay vốn với giá trị từng khoản cho vay không vượt quá 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định cho vay vốn, bảo đảm tổng giá trị các khoản cho vay đối với một công ty không vượt quá giá trị vốn góp thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm cho vay.
Trường hợp vượt quá mức nêu trên, doanh nghiệp báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu để giám sát sau khi quyết định cho vay vốn.
Phương án 2: Không quy định.
Minh định vốn nhà nước, vốn doanh nghiệp
Nhìn nhận về 4 nhóm vấn đề còn nhiều ý kiến nói trên, giới chuyên gia cho rằng việc minh định vốn nhà nước, vốn doanh nghiệp là rất quan trọng, bởi nếu không sẽ gây ra những hệ quả, rào cản lớn với doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, vốn nhà nước khi đã đầu tư vào doanh nghiệp thì thành vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Vốn nhà nước cùng vốn của các cổ đông khác hình thành vốn của doanh nghiệp. Có vốn, doanh nghiệp mới đầu tư kinh doanh, ký kết hợp đồng, thế chấp để vay vốn. Nếu không coi phần vốn góp của Nhà nước vào doanh nghiệp là tài sản của doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể hoạt động.
Theo quy định, pháp nhân phải có tài sản riêng, giao cho doanh nghiệp tài sản, cử người đại diện thì phải coi đó là tài sản kinh doanh của doanh nghiệp để họ sử dụng. Doanh nghiệp kinh doanh có lãi, chủ sở hữu hoặc cổ đông nhà nước có quyền rút hay để lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định, pháp nhân có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác (Điều 74); tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân (Điều 81).
Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty (Điều 4); thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông công ty cổ phần (sau đây gọi chung là “chủ sở hữu”) phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty (Điều 35).
Trên thực tế, vốn nhà nước góp vào doanh nghiệp đã hòa cùng các dòng vốn khác của cổ đông cá nhân, cổ đông tổ chức, cổ đông nước ngoài để đầu tư cho các dự án, hoạt động của doanh nghiệp, không thể phân biệt được trong dòng vốn đầu tư ấy đồng nào của cổ đông nhà nước, đồng nào của cổ đông cá nhân, hay nói vui là “đồng nào mua mắm, đồng nào mua tương”.
Trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp cũng chỉ thể hiện dòng tiền và ghi nhận khoản mục vốn chủ sở hữu, tài sản của doanh nghiệp, chứ không thể phân tách đồng vốn của từng nhóm cổ đông.
Với những luận cứ trên, giới chuyên gia nghiêng về phương án 2 trong Dự thảo luật đưa ra lấy ý kiến “Vốn nhà nước sau khi đã đầu tư tại doanh nghiệp được xác định là tài sản, vốn của pháp nhân tại doanh nghiệp”.
Đóng góp ý kiến cho dự thảo luật, đại diện nhiều doanh nghiệp đều cho rằng, nguyên tắc vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hình thành nên nguồn vốn chủ sở hữu và khi đó là vốn thuộc sở hữu pháp nhân doanh nghiệp. Do vậy nếu coi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là vốn nhà nước tại doanh nghiệp là không đúng bản chất và mâu thuẫn với nguyên tắc nêu trên.