CTG được kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận nhờ NIM cải thiện, SHB hướng tới vượt kế hoạch năm 2026, trong khi KBC ghi nhận kết quả kinh doanh quý III phục hồi nhưng chưa đạt kỳ vọng.
Lợi nhuận ngân hàng kỳ vọng tăng nhờ cải thiện hoạt động cốt lõi
Theo đánh giá của Chứng khoán VPBank (VPBankS), sự phục hồi của biên lãi ròng (NIM) là động lực quan trọng đối với tăng trưởng lợi nhuận cốt lõi của VietinBank (mã CTG). Trong quý II/2026, thu nhập lãi thuần tăng 30,9%, dù tín dụng chỉ tăng 5% so với đầu năm. Diễn biến này cho thấy việc cải thiện lợi suất tài sản đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng thu nhập của ngân hàng.
VPBankS dự phóng NIM của CTG tăng 0,19 điểm % trong năm 2026, qua đó hỗ trợ thu nhập lãi thuần tăng 22%, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng dự kiến 12%. Theo đơn vị phân tích, diễn biến này tạo điều kiện để ngân hàng ưu tiên các khoản vay có hiệu quả sinh lời tốt hơn, hạn chế cạnh tranh lãi suất để mở rộng thị phần và duy trì tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ở mức cao.
Áp lực dự phòng cũng được kỳ vọng giảm trong nửa cuối năm 2026. CTG đã thực hiện khoảng 76,5% kế hoạch trích lập dự phòng trong 6 tháng đầu năm. Dù VPBankS dự phóng chi phí dự phòng cả năm cao hơn kế hoạch ban đầu của ban lãnh đạo, khoản chi phí này trong nửa cuối năm vẫn được kỳ vọng giảm khoảng 40% so với nửa đầu năm.
Hoạt động thu hồi nợ tiếp tục là nguồn hỗ trợ lợi nhuận. CTG mới hoàn thành 44% mục tiêu thu hồi 10.000 tỷ đồng trong cả năm. VPBankS cho rằng sự kết hợp giữa thu nhập lãi thuần tăng và áp lực dự phòng giảm sẽ hỗ trợ lợi nhuận trước thuế năm 2026 tăng 20,9%, dù ngân hàng tiếp tục duy trì chính sách trích lập thận trọng.
Ngoài tín dụng, mạng lưới khách hàng doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tạo cơ hội mở rộng thu nhập phí từ thanh toán quốc tế, bảo lãnh và tài trợ thương mại. Thu nhập phí ròng của CTG tăng 58,2% trong quý II/2026. Theo VPBankS, nguồn thu dịch vụ có ý nghĩa dài hạn do không đòi hỏi tài sản có rủi ro tăng tương ứng với dư nợ cho vay; quy mô nợ đã xử lý còn lớn cũng tạo dư địa thu hồi trong những năm tới.
Về định giá, CTG đang giao dịch ở mức P/B khoảng 1,15 lần, thấp hơn 17,4% so với trung bình 5 năm. ROE 6 tháng đầu năm 2026 đạt 22,2%, vượt mức bình quân ngành 16,5%. VPBankS đánh giá mức chiết khấu này chưa tương xứng với khả năng sinh lời, trong bối cảnh tỷ lệ nợ xấu duy trì quanh 1,1–1,2% và bộ đệm dự phòng tương đối cao. Đơn vị này dự phóng ROE của CTG duy trì trên 20% trong giai đoạn 2026–2027.
Với SHB, Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) đánh giá triển vọng lợi nhuận năm 2026 tích cực. Cổ phiếu ngân hàng này giảm mạnh xuống dưới 10.000 đồng trong ngày 9/10 do lo ngại liên quan đến việc niêm yết cổ phiếu phát hành thêm, thấp hơn mức giá chào bán cho cổ đông hiện hữu là 12.500 đồng.
Tại hội nghị, ban lãnh đạo SHB cho biết thủ tục đang được hoàn tất và cổ phiếu mới dự kiến giao dịch từ giữa tháng 11. Về kết quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế quý III/2026 được ước tính tăng 56,8%. TCBS dự báo lợi nhuận trước thuế quý IV tiếp tục vượt 5.000 tỷ đồng nhờ ghi nhận thêm lãi chuyển nhượng SHBFinance.
Theo dự báo của TCBS, lợi nhuận trước thuế cả năm 2026 của SHB có thể đạt khoảng 19.500 tỷ đồng, vượt mức 19.165 tỷ đồng trong kịch bản kế hoạch tích cực của ngân hàng. Cổ phiếu SHB hiện có P/B 0,7 lần và P/E 4,2 lần. Với ROE duy trì ở mức cao, TCBS cho rằng nhà đầu tư có thể cân nhắc tích lũy cổ phiếu.
Doanh nghiệp bất động sản ghi nhận kết quả kinh doanh phục hồi
Ở nhóm bất động sản khu công nghiệp, Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc – CTCP (KBC, sàn HOSE) ghi nhận kết quả kinh doanh quý III/2026 tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ, nhưng vẫn thấp hơn kỳ vọng theo đánh giá của Chứng khoán SSI.
Cụ thể, doanh thu thuần của KBC đạt 3.187 tỷ đồng, tăng 137% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 911 tỷ đồng, tăng 197%. Kết quả này cao hơn dự báo trước đó của SSI.
Dù doanh thu và lợi nhuận đều tăng mạnh, SSI nhận định kết quả quý III/2026 của KBC vẫn thấp hơn kỳ vọng. Các số liệu cho thấy hoạt động bàn giao đất khu công nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.